Tương lai nhân loại - Michio Kaku (Phần 29)

11. TRANSHUMANISM VÀ CÔNG NGHỆ

Trong bộ phim Iron Man, nhà công nghiệp sành điệu Tony Stark đã mặc lên người một bộ áo giáp sắt kiểu dáng đẹp, đính theo tên lửa, đạn, pháo sáng và chất nổ. Nó nhanh chóng biến đổi một con người yếu đuối thành một siêu anh hùng mạnh mẽ. Nhưng ma thuật thực sự ở bên trong bộ đồ, được nhồi đầy vào những công nghệ máy tính mới nhất, tất cả đều được điều khiển bởi một kết nối trực tiếp với bộ não của Tony Stark. Với tốc độ của sự suy nghĩ, anh ta có thể bắn tên lửa lên bầu trời hoặc phóng ra một loạt vũ khí đáng kinh ngạc của mình.

Huyền ảo như Iron Man có thể, hiện nay chúng ta có thể xây dựng một phiên bản của thiết bị này.

Đây không chỉ là một bài tập học thuật, vì một ngày nào đó chúng ta có thể phải thay đổi và tăng cường cơ thể bằng cách sử dụng thuật kết nối mạng lướt số tự động (cybernetics) hoặc thậm chí thay đổi lại mã di truyền của chúng ta để tồn tại trong môi trường thù địch ở các hành tinh xa lạ. Transhumanism – chuyển đổi con người, thay vì là một nhánh của khoa học viễn tưởng hoặc một phong trào màu mè, có thể trở thành một phần thiết yếu cho sự tồn tại của chúng ta.

Hơn nữa, khi rô bốt ngày càng trở nên mạnh mẽ hơn và thậm chí vượt qua chúng ta trong lãnh vực trí thông minh, chúng ta có thể phải hợp nhất với chúng – hoặc đối mặt với việc bị thay thế bởi chính những sáng tạo của chúng ta.

Chúng ta hãy thử khám phá những khả năng khác nhau này, đặc biệt là khi chúng liên quan đến khám phá và chinh phục vũ trụ.

SIÊU SỨC MẠNH

Thế giới đã bị sốc, năm 1995 khi Christopher Reeve, anh diễn viên đẹp trai, người đóng vai Superhuman trong loạt phim cùng tên, bị tê liệt kinh hoàng từ cổ xuống trong một tai nạn. Reeve, người đã bay vọt vào không gian trên màn ảnh nhỏ, giờ đây giữ chặt lại vĩnh viễn với một chiếc xe lăn và chỉ có thể thở bằng sự trợ giúp của mặt nạ lọc khí. Giấc mơ của anh là sử dụng công nghệ hiện đại để lấy lại quyền kiểm soát chân tay anh. Ông qua đời vào năm 2004, chỉ một thập kỷ trước khi điều này được thực hiện.

Tại World Cup 2014 ở Sao Paolo, Brazil, một người đàn ông đã đá một quả bóng đá để khai mạc mùa giải, một sự kiện được chứng kiến bởi một tỷ người. Điều này tự thân nó không có gì là đáng kể. Điều đáng chú ý là người đàn ông này đã từng bị tê liệt. Giáo sư Miguel Nicolelis của Đại học Duke đã đưa một con chip vào não của người đàn ông này. Con chip này được kết nối với một máy tính xách tay điều khiển bộ xương ngoài (exoskeleton) của anh ta. Chỉ đơn giản là dùng suy nghĩ, cá nhân bị tê liệt này có thể nói chuyện và thậm chí là đá quả bóng.

Khi tôi phỏng vấn Tiến sĩ Nicolelis, ông nói rằng khi ông còn là một đứa trẻ, ông bị mê hoặc bởi sứ mệnh của Apollo lên mặt trăng. Mục tiêu của anh là tạo ra một cảm giác khác, giống như hạ cánh ở mặt trăng vậy. Nó liên đới đến việc hay sự kiện bệnh nhân bị tê liệt như anh ấy có thể đá bóng tại World Cup đã như là một giấc mơ trở thành sự thật. Đó chính là cảm giác đáp xuống mặt trăng của riêng anh ấy.

Tôi từng phỏng vấn John Donoghue của Đại học Brown, một trong những người tiên phong của phương pháp này. Anh ấy nói với tôi rằng phải mất một chút huấn luyện, như đi xe đạp, nhưng chẳng mấy chốc bệnh nhân của anh ấy có thể điều khiển chuyển động của bộ xương ngoài và có thể thực hiện các công việc đơn giản (như lấy một cốc nước, vận hành thiết bị gia dụng, điều khiển xe lăn và lướt web). Điều này là có thể bởi vì một máy tính có thể nhận ra các [mẫu vận hành não/brain patterns nhất định], có liên quan đến các chuyển động cơ thể cụ thể. Máy tính sau đó có thể kích hoạt bộ xương ngoài để các xung điện được chuyển thành hành động. Một trong những bệnh nhân bị tê liệt của anh phấn khởi vì cô ta có thể lấy một cốc soda và uống từ nó, thứ gì đó trước đây vượt quá khả năng của cô.

Công việc được thực hiện tại Duke, Brown, John Hopkins và các trường đại học khác đã gởi tặng món quà của sự vận động cho những người từ lâu đã từ bỏ hy vọng rằng họ sẽ di chuyển trở lại. Và quân đội Mỹ đã dành hơn 150 triệu đô la cho một chương trình gọi là “cách mạng bộ phận giả – Revolutionary Prosthetics” để tài trợ cho các thiết bị này vì lợi ích của các cựu chiến binh từ Iraq và Afghanistan, nhiều người trong số họ bị thương cột sống. Và cuối cùng, hàng ngàn người bị trói đời chặt trên xe lăn và giường bệnh – dù đó có là kết quả của chiến tranh, tai nạn xe hơi, thương tích bệnh tật hoặc thể thao – thì nay họ đều có thể có khả năng sử dụng chân tay của họ một lần nữa.

Bên cạnh bộ xương ngoài exoskeletons, một khả năng khác là tăng cường cơ thể con người về mặt sinh học để sống trên một hành tinh có trọng lực lớn hơn. Khả năng này được nâng cao hơn khi các nhà khoa học khám phá ra một loại gen làm cho cơ bắp giãn nở. Gene này lần đầu tiên được tìm thấy ở chuột, khi đó các nhà khoa học nghiên cứu một đột biến di truyền khiến chuột trở nên bị co cơ. Báo chí đã thổi phồng bản tin lên cho xôm và gọi nó là "gen chuột khỏe phi thường". Sau đó, nơi hình trạng con người cũng tìm đã được tìm thấy và nó được gọi là "gen Schwarenegger".

Các nhà khoa học đã phân lập gen này,đã dự kiến các cuộc gọi điện thoại từ các bác sĩ có nhu cầu để giúp bệnh nhân của họ bị bệnh cơ thoái hóa. Vậy mà họ đã rất ngạc nhiên khi một nửa các cuộc gọi đến từ các những huấn luyện viên thể hình người muốn được cao to và có cơ bắp khỏe hơn nữa. Hầu hết trong số họ không quan tâm rằng nghiên cứu này khi đó vẫn là thử nghiệm, với các tác dụng phụ không rõ. Nó đã gây đau đầu cho ngành công nghiệp thể thao, bởi vì nó khó phát hiện hơn các dạng tăng cường hóa học khác.

Có được khả năng kiểm soát [khối lượng cơ] của một người, có thể chứng minh quan trọng cho việc nếu chúng ta khám phá các hành tinh có một trường hấp dẫn lớn hơn của trái đất. Cho đến nay, các nhà thiên văn học đã tìm thấy một số lượng lớn các siêu Trái đất (các hành tinh đá trong vùng sinh sống có thể có đại dương). Chúng dường như là những ứng cử viên cho việc sinh sống của con người, ngoại trừ trường hấp dẫn của chúng có thể lớn hơn 50% so với Trái Đất. Điều này có nghĩa rằng nó có thể là cần thiết để gia tăng cơ bắp và xương của chúng ta để phát triển mạnh ở đó.

NÂNG CAO BẢN THÂN

Ngoài việc tăng cường cơ bắp của chúng ta, các nhà khoa học đã bắt đầu sử dụng công nghệ này để làm sắc nét các giác quan của chúng ta. Những người bị một số loại chiệu trứng về điếc nhất định bây giờ có tùy chọn sử dụng ốc tai điện tử - cochlear implants. Giá trị của những thiết bị này đáng chú ý, có khả năng biến đổi sóng âm thanh đi vào tai thành tín hiệu điện, thứ có thể được gửi đến dây thần kinh thính giác và sau đó là não. Đã có khoảng nửa triệu người đã chọn cấy những cảm biến này.

Và đối với một số người mù, một võng mạc nhân tạo có thể khôi phục một số lượng giới hạn của thị lực. Thiết bị này có thể được đặt trong một máy ảnh bên ngoài hoặc nó có thể được đặt trực tiếp trên võng mạc. Thiết bị này dịch hình ảnh trực quan thành các xung điện mà não có thể dịch trở lại thành hình ảnh trực quan.

Một ví dụ, Argus II, bao gồm một máy quay video nhỏ đặt trong kính của một người. Những hình ảnh này sau đó được gửi đến một võng mạc nhân tạo, chuyển tiếp các tín hiệu đến thần kinh thị giác. Thiết bị này có thể tạo hình ảnh khoảng 60 pixel và phiên bản cải tiến hiện đang được thử nghiệm có độ phân giải 240 pixel. (Ngược lại, mắt người có thể nhận diện tương đương khoảng một triệu điểm ảnh và một người cần ít nhất 600 pixel để nhận dạng khuôn mặt và vật thể quen thuộc.) Một công ty của Đức đang thử nghiệm với một võng mạc nhân tạo khác với 1.500 pixel, nếu thành công, có thể cho phép một người khiếm thị hoạt động gần như bình thường.

Những cá nhân bị mù đã thử những võng mạc nhân tạo này đã rất ngạc nhiên rằng họ có thể nhìn thấy màu sắc và các đường nét của hình ảnh. Nó chỉ là vấn đề thời gian trước khi chúng ta có võng mạc nhân tạo có thể cạnh tranh với võng mạc tự nhiên hiện tại của con người. Và hơn thế nữa, có thể có một võng mạc nhân tạo để nhìn thấy "những màu sắc" tương ứng với những thứ không nhìn thấy được bằng mắt thường. Ví dụ, người ta thường bị bỏng trong nhà bếp bởi vì một nồi kim loại nóng trông giống như một cái lạnh. Điều này là bởi vì đôi mắt của chúng tôi không có khả năng nhìn thấy bức xạ nhiệt hồng ngoại. Nhưng võng mạc nhân tạo và kính bảo hộ có thể được trang bị để có thể dễ dàng phát hiện ra nó, chẳng hạn như kính nhìn ban đêm được sử dụng bởi quân đội. Vì vậy, với võng mạc nhân tạo, một người có thể có khả năng nhìn thấy dấu hiệu nhiệt đó và cũng có thể thấy các dạng bức xạ khác mà chúng ta không nhìn thấy được. Điều này siêu tầm nhìn, quay trở lại, có thể chứng minh là vô giá trên các hành tinh khác. Nơi các điều kiện thế giới xa xôi sẽ hoàn toàn khác nhau. Bầu không khí có thể tối, mờ hoặc che khuất bởi bụi hoặc tạp chất. Có thể tạo ra võng mạc nhân tạo có thể "nhìn thấy" qua cơn bão bụi sao Hỏa qua máy dò nhiệt hồng ngoại. Trên mặt trăng ở xa, nơi ánh sáng mặt trời gần như không tồn tại, những võng mạc nhân tạo này có thể tăng cường bất cứ ánh sáng phản xạ nào.

Một ví dụ khác sẽ có thể là một thiết bị phát hiện bức xạ cực tím, thứ này có hại và có thể gây ung thư da nhưng chúng phổ biến trong toàn vũ trụ. Trên trái đất, chúng ta được bảo vệ khỏi ánh sáng tia cực tím cường độ cao từ mặt trời bởi bầu khí quyển của chúng ta, nhưng trên sao Hỏa, ánh sáng tia cực tím không bị lọc. Bởi vì ánh sáng tia cực tím là vô hình, chúng ta thường không biết khi nào chúng ta tiếp xúc với mức độ nguy hiểm. Nhưng một số người có trạng bị siêu thị giác trên sao Hỏa có thể thấy ngay nếu xuất hiện ánh sáng tia cực tím có hại. Trên một hành tinh như sao Kim, nơi vĩnh viễn bị che khuất, những võng mạc nhân tạo này sẽ có thể sử dụng ánh sáng tia cực tím để điều hướng xung quanh địa hình (giống như cách phát hiện ánh sáng tia cực tím từ mặt trời để tìm đường vào một ngày u ám).

Một ứng dụng khác của siêu thị giác sẽ là tầm nhìn kính thiên văn và kính hiển vi. Những thấu kính nhỏ, đặc biệt sẽ cho phép chúng ta nhìn thấy các vật ở xa, hoặc các vật thể và các tế bào nhỏ, mà không cần phải mang vác quanh mình nào là những thiết bị kính thiên văn và kính hiển vi cồng kềnh.

Loại công nghệ này cũng có thể cung cấp cho chúng ta sức mạnh của thần giao cách cảm và telekinesis – điều khiển vật hay tương tác bằng ý nghĩ. Hiện tại đã sẵn sàng trong việc tạo ra một con chip có thể nhận sóng não của chúng ta, giải mã một số trong số chúng, và sau đó truyền thông tin này lên internet. Ví dụ, đồng nghiệp của tôi, Stephen Hawking, người bị ALS (Amyotrophic lateral sclerosis), đã mất tất cả các chức năng vận động, kể cả cử động của ngón tay. Lúc này, một con chip đã được đặt trong cặp kính của ông ấy có thể nhận sóng não sau đó được gửi đến một máy tính xách tay và một máy tính. Bằng cách này, ông có thể nhập thông điệp bằng cách nghĩ trong tâm trí thôi, mặc dù chậm. (Thời điểm viết cuốn sách này là đầu 2018, khi Hawking chưa mất.)

Từ đó nó là một bước ngắn để telekinesis (khả năng di chuyển các đối tượng với tâm trí). Sử dụng công nghệ tương tự này, người ta có thể kết nối trực tiếp bộ não với robot hoặc thiết bị cơ khí khác mà sau đó có thể thực thi các lệnh từ tâm trí của chúng ta. Thật dễ dàng để tưởng tượng rằng, trong tương lai, thần giao cách cảm và telekinesis sẽ là chuẩn mực; chúng ta sẽ tương tác với máy móc cách tuyệt đối bằng tư duy. Tâm trí của chúng ta sẽ có thể bật đèn, kích hoạt internet, đọc các chữ cái, chơi trò chơi video, giao tiếp với bạn bè, gọi xe, mua hàng hóa, gợi lên bất kỳ bộ phim nào - tất cả chỉ bằng suy nghĩ. Các phi hành gia của tương lai có thể sử dụng sức mạnh của tâm trí của họ để lái phi thuyền không gian của họ hoặc khám phá các hành tinh xa xôi. Các thành phố có thể mọc lên từ sa mạc của sao Hỏa, tất cả đều do các nhà xây dựng bậc thầy kiểm soát bằng tâm trí qua thao tác công việc với robot.

Tất nhiên, quá trình nâng cao bản thân của chính chúng ta không phải là mới nhưng thực ra đã xảy ra cho tất cả sự tồn tại của con người. Trong suốt lịch sử, chúng ta thấy những ví dụ về cách con người sử dụng phương tiện nhân tạo để tăng cường sức mạnh và ảnh hưởng của chúng ta: quần áo, hình xăm, trang điểm, mũ, áo choàng, lông, kính, máy trợ thính, micro, tai nghe, vân vân. Trong thực tế, nó có vẻ là một tính năng phổ quát của tất cả các xã hội loài người mà chúng ta cố gắng để gắn ghép với cơ thể của chúng ta, đặc biệt là để tăng cơ hội thành công sinh sản của chúng ta. Tuy nhiên sự khác biệt ở đây, giữa các cải tiến của quá khứ và tương lai là, khi chúng ta khám phá vũ trụ, các cải tiến hay nâng cao sức mạnh, có thể là chìa khóa để sống sót trong các môi trường khác nhau. Trong tương lai, chúng ta có thể sống trong thời đại thuộc về tâm trí hay tinh thần, nơi mà những suy nghĩ của chúng ta kiểm soát thế giới xung quanh chúng ta.

TƯƠNG LAI NHÂN LOẠI - MICHIO KAKU
Bản dịch của ĐỖ BÁ HUY
<< Phần trước | Phần tiếp theo >>

Vui lòng ghi rõ "Nguồn Thuvienvatly.com" khi đăng lại bài từ CTV của chúng tôi.

Nếu thấy thích, hãy Đăng kí để nhận bài viết mới qua email
Tin tức vật lý
Downlaod video thí nghiệm

Thêm ý kiến của bạn

Security code
Refresh

Các bài khác


250 Mốc Son Chói Lọi Trong Lịch Sử Vật Lí (Phần 60)
11/11/2019
Định luật Coulomb về Tĩnh điện 1785 Charles-Augustin Coulomb (1736–1806) “Chúng ta gọi ngọn lửa của đám mây đen ấy là
250 Mốc Son Chói Lọi Trong Lịch Sử Vật Lí (Phần 59)
11/11/2019
Lỗ đen 1783 John Michell (1724-1793), Karl Schwarzschild (1873-1916), John Archibald Wheeler (1911-2008), Stephen William Hawking (1942-2018) Các nhà
Chuyển động của các hành tinh đặt ra giới hạn mới lên khối lượng graviton
11/11/2019
Có thể dùng chuyển động của các hành tinh để đưa ra ước tính tốt nhất cho giới hạn trên của khối lượng graviton – một
Đi tìm nguồn gốc của khái niệm du hành thời gian
10/11/2019
Giấc mơ du hành xuyên thời gian vốn đã xưa cũ và ở đâu cũng có. Thế nhưng niềm hứng khởi của con người đối với sự du
Thorium decahydride siêu dẫn ở 161 K
09/11/2019
Một nhóm nhà khoa học, dưới sự chỉ đạo của Artem Oganov ở Skoltech và Viện Vật lí và Công nghệ Moscow, và Ivan Troyan ở Viện
Vật lí Lượng tử Tốc hành (Phần 92)
09/11/2019
Các kiểu máy tính lượng tử Các nhà vật lí đang phát triển máy tính lượng tử không kì vọng chế tạo được ngay một mẫu
Vật lí Lượng tử Tốc hành (Phần 91)
09/11/2019
Điện toán lượng tử Máy tính lượng tử hứa hẹn làm thay đổi thế giới theo những cách mà chúng ta không thể hình dung nổi.
Định luật Coulomb về tĩnh điện (Phần 2)
08/11/2019
Charles-Augustin de Coulomb (1736–1806), nhà vật lí Pháp nổi tiếng với định luật mô tả lực tương tác giữa hai điện tích

Chúng tôi hiện có hơn 60 nghìn tài liệu để bạn tìm

360 độ

Vật lý 360 độ là trang tin nhanh, trao đổi chuyên đề vật lý và các khoa học khác cũng như các nội dung liên quan đến dạy và học.
Hi vọng các bạn giúp chúng tôi bằng cách đăng kí làm CTV.
Liên hệ: banquantri@thuvienvatly.com