Vật Lí Lượng Tử

Thuvienvatly danh gia8.3/1025 binh chon
Vật lí Lượng tử Tốc hành (Phần 20)

Vật lí Lượng tử Tốc hành (Phần 20) Hiệu ứng Zeeman Khái niệm spin electron nảy sinh thường xuyên trong vật lí lượng tử (ví dụ, trong các phần thảo luận của chúng ta về các số lượng tử và các quy tắc Hund). Là những “chất điểm” với kích thước bỏ qua được, thật ra các electron không xoay tròn, nhưng chúng vẫn thể hiện các tính chất lượng tử

Vật lí Lượng tử Tốc hành (Phần 17)

Vật lí Lượng tử Tốc hành (Phần 17) Quy tắc Hund Năm 1927, nhà vật lí Đức Friedrich Hund đã phát triển một bộ quy tắc giúp thiết lập trật tự cho tình trạng lộn xộn cấu hình electron. Ông thiết lập ba quy tắc xác định cấu hình nào của nguyên tử gồm vài electron là có trạng thái năng lượng cơ bản thấp nhất, và do đó được ưu tiên. Bộ quy tắc b

Vật lí Lượng tử Tốc hành (Phần 16)

Vật lí Lượng tử Tốc hành (Phần 16) Các lớp vỏ con electron Theo phương trình đã nêu ở phần trước thì các electron thuộc cùng một lớp vỏ có năng lượng y hệt nhau, nhưng điều này không hoàn toàn đúng; vì như thường xảy ra, vật lí lượng tử có một số tùy tiện. Mỗi lớp vỏ electron được phân chia thành những lớp con, một trong số chúng sẽ có nă

Vật lí Lượng tử Tốc hành (Phần 15)

Vật lí Lượng tử Tốc hành (Phần 15) Tính các mức năng lượng Khi phân tích quang phổ, các nhà vật lí thường phải tính các mức năng lượng gần đúng của electron trong một lớp vỏ nhất định, và họ làm công việc này bằng cách sử dụng phương trình sau. Ở đây, E kí hiệu cho năng lượng mà ta muốn tính, h là hằng số Planck và c là tốc độ ánh sáng

Vật lí Lượng tử Tốc hành (Phần 14)

Vật lí Lượng tử Tốc hành (Phần 14) Các số lượng tử Số lượng tử chính mô tả mức năng lượng của các lớp vỏ electron không phải là cách duy nhất để chúng ta xác định một trạng thái lượng tử nào đó – tức là hàm sóng xác suất – của electron. Ngoài nó ra, còn có những số lượng tử quan trọng khác giúp xác định đặc tính của một electron.

Vật lí Lượng tử Tốc hành (Phần 12)

Vật lí Lượng tử Tốc hành (Phần 12) Cách hiểu Copenhagen Phần lớn nền tảng lí thuyết cho vật lí lượng tử trong thập niên 1920 được thiết lập dưới sự lãnh đạo của Niels Bohr tại Đại học Copenhagen. Các nhà khoa học trong đó có Paul Dirac, Erwin Schrodinger và Werner Heisenberg đều tới Đan Mạch làm việc với Bohr, và những nỗ lực tập thể của họ đã

Vật lí Lượng tử Tốc hành (Phần 11)

Vật lí Lượng tử Tốc hành (Phần 11) Tương đương khối lượng-năng lượng Phương trình nổi tiếng nhất thế giới vật lí học cho ta biết rằng khối lượng và năng lượng là tương đương. Einstein đã thực hiện khám phá nổi bật này trong khi đang nghiên cứu các vật có khối lượng (m) sẽ hành xử như thế nào khi chuyển động ở gần tốc độ ánh sáng

Vật lí Lượng tử Tốc hành (Phần 10)

Vật lí Lượng tử Tốc hành (Phần 10) Nguyên tử cơ học lượng tử Bất chấp những nỗ lực tột bậc của Rutherford và Bohr, những phương diện nhất định của cấu trúc nguyên tử vẫn là một thách đố, và mãi cho đến năm 1925 thì những mảnh ghép cuối cùng của trò chơi ghép hình mới lắp khớp vào khoảng trống. Sự lưỡng tính sóng-hạt bảo ta rằng m

Vật lí Lượng tử Tốc hành (Phần 8)

Vật lí Lượng tử Tốc hành (Phần 8) Lưỡng tính sóng-hạt Vào đầu thập niên 1920, bằng chứng rằng ánh sáng có các đặc tính vừa là sóng vừa là hạt đã được chấp nhận rộng rãi, nhưng câu hỏi vì sao chỉ riêng ánh sáng mới biểu hiện đặc tính nước đôi này vẫn là một bí ẩn. Năm 1924, nhà khoa học Pháp Louis-Victor de Broglie đề xuất một lí giả

Vật lí Lượng tử Tốc hành (Phần 7)

Vật lí Lượng tử Tốc hành (Phần 7) Lí thuyết photon của Einstein Nghiên cứu của Albert Einstein về hiệu ứng quang điện đã đưa ông đến một kết luận thật bất ngờ. Max Planck đã chứng minh rằng bức xạ từ các vật đen dường như được phát ra theo những gói nhỏ có năng lượng liên quan đến tần số. Nay Einstein nắm lấy ý tưởng này, xem đây là mộ

Chúng tôi hiện có hơn 60 nghìn tài liệu để bạn tìm

360 độ

Vật lý 360 độ là trang tin nhanh, trao đổi chuyên đề vật lý và các khoa học khác cũng như các nội dung liên quan đến dạy và học.
Hi vọng các bạn giúp chúng tôi bằng cách đăng kí làm CTV.
Liên hệ: banquantri@thuvienvatly.com