DẤU HIỆU ĐỂ NHÂN BIẾT NHANH BÀI TOÁN TRÙNG NHAU CỦA HAI HỆ VÂN GIAO THOA

Bài này xin trích lại bài viết của thầy Đậu Quang Dương đã đăng tại Thuvienvatly.com http://thuvienvatly.com/download/18791

Câu 4 của mà đề 958 (Môn vật lý Đại học 2012) làm cho một số HS khá giỏi mất thời gian hơn HS trung bình làm liều (vẫn đúng), nên tôi viết bài này để các em HS sau này có dấu hiệu làm nhanh trắc nghiệm mà không dính bẫy!


Trước hết ta xem vùng giao thoa là đủ rộng. 

Biểu diễn tỉ số \frac{\lambda _{1}}{\lambda _{2}} dưới dạng tối giản: \frac{m}{n} –  Nghĩa là  m và n không thể đồng thời là hai số chẵn.

 
Bài toán 1:  Sự trùng nhau của các vân sáng của hai hệ vân


+ Vị trí trùng nhau của các vân sáng: x = k_{1}\frac{\lambda _{1}D}{a} = k_{2}\frac{\lambda _{2}D}{a} với k_{1}; \, k_{2} \, \epsilon\, Z


Đẳng thức trên trở thành: mk_{1}= n k_{2}
 
Vậy bài toán luôn có nghiệm.

+ Khoảng vân trùng (khoảng cách giữa hai vân sáng liên tiếp cùng màu với vân trung tâm): {\color{blue}i_{t}= ni_{1}= m i_{2} }

Bài toán 2:  Sự trùng nhau của các vân tối của hai hệ vân

+ Vị trí trùng nhau của các vân tối: x = \left< k_{1} + \frac{1}{2}\right>\frac{\lambda _{1}D}{a} = \left< k_{2} + \frac{1}{2}\right> \frac{\lambda _{2}D}{a} với k_{1}; \, k_{2} \, \epsilon\, Z

Đẳng thức trên trở thành: {\color{blue} m\left< k_{1} + \frac{1}{2}\right> = n \left< k_{2} + \frac{1}{2}\right>}
 
 + Vậy bài toán chỉ có nghiệm khi m ; n đồng thời là hai số nguyên lẻ và chính giữa hai vân sáng trùng là một vân tối trùng của hệ vân và ngược lại.

 Bài toán 3: Sự trùng của vân sáng của bức xạ này với vân tối của bức xạ kia

+ Vị trí của vân sáng của bức xạ 1 trùng với vân tối của bức xạ 2:

x = k_{1} \frac{\lambda _{1}D}{a} = \left< k_{2} + \frac{1}{2}\right> \frac{\lambda _{2}D}{a} với k_{1}; \, k_{2} \, \epsilon\, Z

Đẳng thức trên trở thành: {\color{blue}m k_{1} =n \left< k_{2} + \frac{1}{2}\right> n }

   \Rightarrow Vậy bài toán chỉ có nghiệm khi n là số nguyên chẵn

+  Vị trí của vân sáng của bức xạ 2 trùng với vân tối của bức xạ 1:

x = \left< k_{1} + \frac{1}{2}\right> \frac{\lambda _{1}D}{a} = k_{2}\frac{\lambda _{2}D}{a}  với  k_{1}; \, k_{2} \, \epsilon\, Z

Đẳng thức trên trở thành: {\color{blue} m \left< k_{1} + \frac{1}{2} \right> = nk_{2}}

\Rightarrow Vậy bài toán chỉ có nghiệm khi m là số nguyên chẵn

 

 

• Lưu ý: Các em HS chỉ cần nhớ các kết luận được tô màu đỏ để giải quyết nhanh các bài toán trắc nghiệm

>>> Download file word tại http://thuvienvatly.com/download/18785.

Nguồn từ thầy Đậu Quang Dương - Thuvienvatly.com

Vui lòng ghi rõ "Nguồn Thuvienvatly.com" khi đăng lại bài từ CTV của chúng tôi.

Nếu thấy thích, hãy Đăng kí để nhận bài viết mới qua email
Tin tức vật lý
Downlaod video thí nghiệm

Thêm ý kiến của bạn

Security code
Refresh

Các bài khác


Mở rộng săn tìm neutrino tại Nam Cực
14/01/2020
Đợt nâng cấp sắp tới cho detector IceCube sẽ đem lại những nhận thức sâu sắc hơn về các neutrino. Nằm sâu dưới lòng đất
Bảng tuần hoàn hóa học tốc hành (Phần 82)
14/01/2020
Thallium Thành viên bền nặng nhất của nhóm 13 là một nguyên tố hóa học nữa được đặt tên theo màu sắc quang phổ nổi bật
Bảng tuần hoàn hóa học tốc hành (Phần 81)
14/01/2020
Vàng Mặc dù vàng không phải nguyên tố hiếm nhất hay đắt nhất, nhưng giá trị của nó ít ba chìm bảy nổi hơn các kim loại
Toán học cấp tốc (Phần 6)
11/01/2020
Số hữu tỉ Số hữu tỉ là các số có thể biểu diễn bằng cách chia một số nguyên cho một số nguyên khác khác không. Như
Toán học cấp tốc (Phần 5)
11/01/2020
Các kiểu số Các con số có thể được chia loại thành các kiểu số có chung những tính chất nhất định. Có nhiều cách đưa
Vật lí học và chiến tranh - Từ mũi tên đồng đến bom nguyên tử (Phần 56)
09/01/2020
NHỮNG TÊN LỬA ĐẦU TIÊN TRONG CHIẾN TRANH Thế chiến II không những chứng kiến động cơ phản lực đầu tiên, mà tên lửa
Vật lí học và chiến tranh - Từ mũi tên đồng đến bom nguyên tử (Phần 55)
09/01/2020
KHÔNG CHIẾN TẠI ANH QUỐC Không bao lâu sau khi Pháp bị bao vây, Đức chuyển sự chú ý sang Anh, và xảy ra hai tháng sau đó là một
250 Mốc Son Chói Lọi Trong Lịch Sử Vật Lí (Phần 76)
06/01/2020
Hiệu ứng Nhà kính 1824 Joseph Fourier (1768–1830), Svante August Arrhenius (1859–1927), John Tyndall (1820–1893) “Bất chấp mọi tin tức

Chúng tôi hiện có hơn 60 nghìn tài liệu để bạn tìm

360 độ

Vật lý 360 độ là trang tin nhanh, trao đổi chuyên đề vật lý và các khoa học khác cũng như các nội dung liên quan đến dạy và học.
Hi vọng các bạn giúp chúng tôi bằng cách đăng kí làm CTV.
Liên hệ: banquantri@thuvienvatly.com