Nhà tiên phong nghiên cứu siêu dẫn Robert Schrieffer qua đời

Nhà vật lí vật chất ngưng tụ Robert Schrieffer, người cùng chia sẻ Giải Nobel Vật lí 1972, vừa qua đời ở tuổi 88. Vào cuối thập niên 1950, cùng với các đồng nghiệp John Bardeen và Leon Cooper, Schrieffer đã phát triển một lí thuyết về siêu dẫn có thể giải thích vì sao những vật liệu nhất định hoàn toàn không còn điện trở ở nhiệt độ thấp.

Sinh ngày 31 tháng Năm 1931 ở Oak Park, Illinois, Hoa Kì, Schreoffer học xong cử nhân vật lí tại Viện Công nghệ Massachusetts vào năm 1953. Sau đó ông chuyển đến Đại học Illinois ở Urbana-Champaign làm nghiên cứu sinh dưới sự cố vấn của Bardeen. Vào năm thứ ba, ông bắt đầu nghiên cứu một lí thuyết về siêu dẫn – hiện tượng đã thu hút trí tưởng tượng của các nhà vật lí kể từ khi nhà vật lí Hà Lan Heike Kamerlingh Onnes khám phá vào năm 1911 rằng điện trở của thủy ngân đột ngột biến mất khi nhiệt độ hạ dưới 4,2 K.

Robert Schrieffer

Robert Schrieffer (1931-2019)

Tuy nhiên, bất chấp những phát triển về cơ học lượng tử vào thập niên 1920, vẫn chẳng có lí thuyết vi mô nào về siêu dẫn mãi cho đến năm 1957, khi Bardeen, Cooper và Schrieffer đi tới lí thuyết “BCS” của họ. Lí thuyết này mô tả cách một electron có thể làm biến dạng mạng nguyên tử mà nó chuyển động trong đó, nhờ đó ghép cặp với một electron láng giềng. Việc ghép cặp cho phép toàn bộ electron trong một chất siêu dẫn chuyển động như một đội quân, gọi là một ngưng tụ, áp đảo các thăng giáng nhiệt có thể làm hỏng sự ghép cặp. Ý tưởng về một ngưng tụ gồm các cặp electron được Schrieffer nghĩ ra khi ông đang ngồi ở ga tàu điện ngầm New York, tại đó ông đã viết ra một biểu thức cho hàm sóng của trạng thái cơ bản siêu dẫn.

Bardeen, Cooper và Schrieffer gửi bức thư đầu tiên của họ công bố lí thuyết Bardeen–Cooper–Schrieffer vào tháng Tư 1957 (Phys. Rev. 106 162), sau đó là một bài báo đầy đủ vào tháng Mười Hai, ngày nay nó được xem là một trong những kinh điển của vật lí hiện đại (Phys. Rev. 108 1175). Lí thuyết BCS về siêu dẫn không những giải thích thành công hành trạng của các chất siêu dẫn nhiệt độ thấp “thông thường” như thủy ngân và thiếc, mà nó còn tiếp tục đào sâu thêm lí thuyết vật lí hạt sơ cấp bởi việc đóng góp khái niệm phá vỡ đối xứng tự phát.

Sau khi hoàn thành luận án tiến sĩ của ông về lí thuyết siêu dẫn vào năm 1957, Schrieffer dành một năm tại Đại học Birmingham và Viện Niels Bohr ở Copenhagen, Đan Mạch. Vào năm 1958, ông chuyển đến Đại học Chicago, sau đó một năm thì lại quay về Đại học Illinois ở Urbana-Champaign.

Vào năm 1962, Schrieffer đến làm ở Đại học Pennsylvania ở Philadelphia và năm 1980 thì ông chuyển đến Đại học California, Santa Barbara. Ông giữ chức giám đốc Viện Vật lí Lí thuyết ở Santa Barbara từ năm 1984 đến 1989, và năm 1992 ông chuyển đến Đại học Florida, tại đây ông còn là nhà khoa học chính của Phòng thí nghiệm Quốc gia Từ trường Cao ở Tallahassee. Ông về hưu vào năm 2006. Năm 1983, ông được tặng Huy chương Khoa học Quốc gia Hoa Kì.

Thế nhưng không phải cuộc đời Schrieffer luôn suôn sẻ. Vào năm 2005, ông bị tuyên án hai năm tù vì làm một người thiệt mạng và làm bị thương bảy người khác khi lái xe quá tốc độ ở California vào năm trước đó. Theo luật sư của ông khi ấy, Schrieffer ngủ quên trên vô lăng chiếc ô tô thể thao Mercedes-Benz của ông lúc đang lái hơn 100 dặm trên giờ.

Nguồn: physicworld.com

Vui lòng ghi rõ "Nguồn Thuvienvatly.com" khi đăng lại bài từ CTV của chúng tôi.

Nếu thấy thích, hãy Đăng kí để nhận bài viết mới qua email
Tin tức vật lý
Tạo bảng điểm online

Thêm ý kiến của bạn

Security code
Refresh

Các bài khác


Vật lí học và chiến tranh - Từ mũi tên đồng đến bom nguyên tử (Phần 51)
14/12/2019
RADAR Radar là một công nghệ khác sử dụng bức xạ điện từ, và, như chúng ta sẽ thấy trong chương 16, nó giữ một vai trò
Vật lí học và chiến tranh - Từ mũi tên đồng đến bom nguyên tử (Phần 50)
14/12/2019
Chương 14 CÁC TIA VÔ HÌNH Sự phát triển và sử dụng radio và radar trong chiến tranh Bức xạ điện từ đã giữ một vai trò
250 Mốc Son Chói Lọi Trong Lịch Sử Vật Lí (Phần 70)
13/12/2019
Các vạch phổ Fraunhofer 1814 Joseph von Fraunhofer (1787–1826) Mỗi quang phổ thường thể hiện sự biến thiên cường độ bức xạ
250 Mốc Son Chói Lọi Trong Lịch Sử Vật Lí (Phần 69)
13/12/2019
Định luật Chất khí Avogadro 1811 Amedeo Avogadro (1776-1856)   Định luật Avogadro, mang tên nhà vật lí Italy Amedeo Avogadro,
[ebook] Vật Lí Lượng Tử Cấp Tốc
13/12/2019
Mời các bạn tải về tập sách mới được dịch bởi Thư Viện Vật Lý: Tên sách: Vật Lí Lượng Tử Cấp Tốc Tác giả:
Tìm hiểu nhanh vật lí hạt (Phần 22)
13/12/2019
Khám phá tia vũ trụ Với phát minh ống chân không, các nhà khoa học được trang bị một cách đơn giản hóa hệ thống vật chất
Tìm hiểu nhanh vật lí hạt (Phần 21)
13/12/2019
Neutron Sau đó, vào năm 1932, James Chadwick (1891–1974) nắm lấy các kết quả thí nghiệm tiến hành ở Đức và Pháp. Walther Bothe và
‘Hạt X17’ có khả năng mang lực thứ năm của tự nhiên
12/12/2019
Vũ trụ của chúng ta bị chi phối bởi bốn lực cơ bản. Ít nhất thì đó là cái các nhà vật lí lâu nay vẫn nghĩ. Tuy nhiên, nay

Chúng tôi hiện có hơn 60 nghìn tài liệu để bạn tìm

360 độ

Vật lý 360 độ là trang tin nhanh, trao đổi chuyên đề vật lý và các khoa học khác cũng như các nội dung liên quan đến dạy và học.
Hi vọng các bạn giúp chúng tôi bằng cách đăng kí làm CTV.
Liên hệ: banquantri@thuvienvatly.com